Điện ảnh

Điện ảnh Nam Bộ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp

Thứ tư, 27 Tháng 3 2013 08:55 (GMT+7)

(TGĐA) - “…Từ khi thành lập đến khi tập kết ra miền Bắc (cuối 1954), điện ảnh Nam Bộ vừa học vừa làm. Qua tổng kết kinh nghiệm đã hình thành một quy trình sản xuất phim trong điều kiện đặc biệt, không thuận lợi cho việc làm phim. Ngoài ra, còn mở lớp đào tạo cơ bản về các bộ môn kỹ thuật và nghệ thuật làm phim. Số anh em này gồm 23 người: Mai Lộc, Khương Mễ, Vũ Sơn, Lý Cương, Nguyễn Đảnh , Cao Thành Nhơn, Hồ Tây, Vũ Ba, Trương Thành Hỷ, Lê Minh Hiền, Nguyễn Thế Đoàn, Nguyễn Phu Cẩn, An Sơn, Trần Nhu, Nguyễn Thanh Trước, Hạ Giêng Bình, Việt Hiền, Lê Bích, Phạm Tranh, Hoàng Tiến Đạt, Trần Kiềm, Nguyễn Văn Phỉ, Nguyễn Xuân Quang.

Tất cả sau này đều nắm các khâu chủ chốt của các xưởng phim: Thời sự, Tài liệu Trung ương, Xưởng phim Quân đội, Xưởng phim Hoạt họa, Xưởng phim truyện Việt Nam.

Sau khi thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam thì cũng một số đồng chí này tiên phong trở về Nam; Năm 1962, anh Cao Thành Nhơn, Nguyệt Hải xây dựng Xưởng phim Giải Phóng, năm 1963 anh Trương Thành Hỷ xây dựng xưởng phim Quân Giải Phóng theo quy trình sản xuất và kinh nghiệm làm phim của K8…”

Hot_ng_in_nh__Bng_Bin_-_Nam_b

Hoạt động điện ảnh ở Bưng Biền - Nam Bộ

Đặc điểm tình hình chiến trường Nam Bộ

Năm 1947, địch chiếm hết các thành phố, thị xã, thị trấn, các đường giao thông thủy bộ chủ yếu, trong đó có quốc lộ 1 nối liền các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long với Sài Gòn – Chợ Lớn, nơi đặt các cơ quan đầu não của địch. Các phương tiện giao thông quân sự, dân sự vận chuyển liên tục suốt ngày đêm trên con đường huyết mạch này. Đường số 1 chạy ngang qua khu 8 và khu 9, tạo nên thế đan xen giữa ta và địch, nên ta có điều kiện xâm nhập vào các thị trấn và thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn thuận lợi hơn các khu khác. Quan hệ thương mại giữa Sài Gòn – Chợ Lớn với Paris thuận tiện, do đó nghề phim ảnh, người chơi tài tử phổ biến. Việc mua sắm trang thiết bị, vật tư chuyên môn cũng không khó khăn như các nơi khác.

Nam Bộ chia làm ba khu quân sự: K7, K8 và K9.

Cả ba khu bị địch bao vây tứ bề, các phương tiện chiến tranh của địch như xe tăng, xe lội nước, tàu thủy, máy bay, đại bác bắn phá liên miên. Các phương tiện làm việc của ta đều thiếu thốn, mọi thứ đều phải mua sắm từ vùng địch tạm chiếm.

Thành lập điện ảnh

Biu_tng_ca_in_nh_Bng_Bin_2

Biểu tượng của điện ảnh Bưng Biền

Tuy hoàn cảnh chiến trường cực kỳ khó khăn, gian khổ, nhưng các đồng chí lãnh đạo các quân khu, với tầm nhìn xa, coi trọng các hoạt động văn hóa, văn nghệ phục vụ kháng chiến, tin tưởng vào anh em đã làm điện ảnh, căn cứ vào những thành quả của đội ngũ nhiếp ảnh ngay từ ngày đầu kháng chiến, nên ở các quân khu điện ảnh lần lượt ra đời.

Ngày 15/10/1947, Bộ Tư lệnh khu 8 quyết định Tổ nhiếp ảnh phát triển thêm môn điện ảnh do đồng chí Mai Lộc phụ trách, lấy tên là Tổ Nhiếp – Điện ảnh trực thuộc Ban Tuyên truyền, Phòng chính trị khu. Không bao lâu, tổ đã tập hợp được một đội ngũ yêu thích điện ảnh, trong số đó có hai anh Khương Mễ và Lưu Văn Phái đã trải qua làm phim trước Cách mạng Tháng 8, kế đó là các đồng chí Lý Cương, Nguyệt Hải đã làm trong hiệu làm phim ảnh Cinnéa của Pháp ở Sài Gòn cùng một số anh em ở các đơn vị khác chuyển về như anh Nguyễn Đảnh ở tiểu đoàn 307, các anh Nguyễn Văn Phỉ, Lê Bích từ chiến trường Gò Công, anh Hồ Tây từ Tv Thông tin Vĩnh Long, anh Lê Nuôi từ Ban liên lạc Phòng Tham mưu, anh Phan Văn Trai, anh Phụ Cấn từ Sài Gòn về…

Khó khăn lúc ban đầu là vấn đề mua sắm thiết bị, vật tư. Anh Khương Mễ (với sự hỗ trợ của Ban tiếp liệu Quân khu) được các đồng chí lãnh đạo giao nhiệm vụ trở về Sài Gòn – Chợ Lớn bí mật tổ chức đường dây tiếp liệu, mua phim, máy, hóa chất chuyển về chiến khu.

Sau đó, số vật tư ngành điện ảnh ở thị trường Sài Gòn dần dần khan hiếm nên phải tổ chức mua bên Pháp. Nhờ vật mà việc sản xuất phim của Khu 8 không bị đình trệ. Việc này có hai anh công tác trong thành là Nguyễn Văn Dĩ và Võ Văn Nghiêm đảm nhận.

Sản xuất phim

Do yêu thích nghề điện ảnh, nên khi được làm phim, mà làm phim phục vụ Cách mạng giải phóng dân tộc, thì anh em có quyết tâm cao độ, khắc phục mọi trở ngại làm cho  bằng được.

Với đội ngũ nhiệt tình năng nổ, lại được sự chỉ đạo sâu sát, động viên kịp thời của các đồng chí lãnh đạo, toàn thể anh chị em miệt mài làm việc không kể ngày đêm, bất kể địch ruồng bố bắn phá, vừa di chuyển tránh địch, vừa phát huy sáng kiến khắc phục khó khăn để sản xuất.

Không có phòng lạnh, anh em có sáng kiến đóng một cái hộp bằng gỗ đựng chậu thuốc và guồng quấn phim, rồi ướp nước đá xung quanh chậu thuốc để hạ nhiệt độ xuống 18 độ C (tiêu chuẩn đảm bảo phim không chảy, hình ảnh mịn màng).

Dùng ghe để cơ động tránh địch ruồng bố căn cứ, để mỗi lần tráng phim có thể đưa dụng cụ tráng ra vùng địch hậu lấy nước ngọt và mua nước đá ướp lạnh thùng tráng (thùng điều hòa nhiệt độ). Chiếc ghe này cũng là một buồng tối lưu động để sản xuất ảnh khi phải dời địa điểm mà chưa kịp dựng phòng tối trên bờ.

Sáng kiến in phim bằng máy quay phim

Xem buồi chiếu ra mắt bộ phim Trận Mộc Hóa đêm 24/12/1984, anh Ba Lê Duẩn nói với chúng tôi một câu có sức động viên mạnh mẽ: “Nên đem phim đi chiếu rộng rãi cho bộ đội và nhân dân xem”.

Thế là phải có máy in phim. Mà là máy in thủ công, du kích dùng ở môi trường không có điện. Vả lại, máy chuyên nghiệp không thích hợp với điều kiện chiến tranh du kích thường xuyên phải dời địa điểm trú quân. Đồng chí Khương Mễ được phép trở về Sài Gòn để lo việc này. Phối hợp với anh Dĩ, hai anh đi lùng sục khắp Sài Gòn – Chợ Lớn gần suốt tháng, hầu như không có hy vọng. Cuối cùng, hai anh mang máy quay phim ra nghiên cứu và cho hai phim chập lại chạy thử. Máy chạy hoàn toàn bình thường như khi kéo một phim. Mừng quá, có biện pháp rồi, các anh bỏ ra một thời gian đi tìm mua một máy cũ, không cần có ống kính. Rất may là tìm được một chiếc máy ciné Kodak box (giống như hòn gạch xây tường) cũ ở tiệm lạc son đường Colonel Boudonnet (nay là Lê Lai) trước ga xe lửa Sài Gòn.

Sở dĩ phải kể tỉ mỉ phần này là vì đó là vấn đề cơ bản quyết định sự tồn tại và phát triển của Điện ảnh Khu 8. Có quyết tâm cao, cái khó không bó cái khôn!

Trở về chiến khu, hai đồng chí Khương Mễ và Lưu Văn Phái ra công, cải tạo máy Kodak box thành máy in phim hoàn chỉnh. Kết quả thực mỹ mãn, vì giây cót của máy quay kéo phim thay cho moto điện, ánh sáng in phim thì dùng đèn măng sông hoặc ánh sáng trời.

Trước bao nhiêu khó khăn về kỹ thuật, bao nhiêu tai họa do địch gây ra, tập thể Điện ảnh Khu 8 không ngại khó và với lòng quyết tâm cao đã tạo lập được quy trình sản xuất phim – từ khâu quay phim, quay tít, làm kỹ xảo đến in tráng, dựng phim – trong điều kiện khắc nghiệt của Đồng Tháp Mười không điện, nước phèn, địch ruồng rập bắn phá liên miên. Chính nhờ có máy in phim tự chế, nên Điện ảnh khu 8 đã in được nhiều bản gửi xuống Khu 9, gửi lên Khu 7, Cực Nam Trung Bộ, gửi ra Việt Bắc.

Tháng 6/1949, Điện ảnh Khu 9 ra đời mang tên Tổ Cinné K9. Do đường tiếp liệu vật tư xa và vận chuyển khó khăn nên trang thiết bị và phim nhựa không được dồi dào.

Các đồng chí Khu 9 cũng lại mày mò khắc phục khâu kỹ thuật (không giải quyết được kỹ thuật, không làm điện ảnh), qua sách vở, tự chế tạo các dụng cụ tráng phim. Do không có máy in phim nên phải chiếu bản gốc.

Tổ chức Điện ảnh Khu 9 chia làm hai đội thi đua với nhau khắc phục khó khăn làm phim để phục vụ kháng chiến. Sau khi tìm được cách tráng phim thì các chiến dịch lớn đều có cử người quay phim theo bộ đội quay tại trận địa.

Năm 1950, đồng chí Phan Trọng Tuệ, Chính ủy Bộ Tư lệnh Khu 9, đưa một đoàn cán bộ ra Việt Bắc, trong đó có hai cán bộ điện ảnh là anh Lê Minh Hiền và anh Nguyễn Thế Đoàn. Anh Đoàn đã quay được những thước phim về sinh hoạt của Hồ Chủ tịch, Đại hội Đảng lần II, Đại hội Mặt trận Liên Việt.

Cuối năm 1949, Điện ảnh Khu 7 mới ra đời. Đầu tiên là thành lập đội chiếu phim. Bước đầu, Khu 7 chưa có đủ máy móc, phim nhựa. Nhân dự của Tổ Nhiếp ảnh chuyển thành chiếu phim. Sau sáu tháng, được sự chi viện nhân sự chuyên môn của điện ảnh Khu 8, đồng chí tổ trưởng Tô Cương ra sức nghiên cứu quay thành công. Từ đó bắt đầu quay các hoạt động kháng chiến, các trận chiến đấu của bộ đội tại trận địa. Song, do hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, cơm không đủ no, giặc đánh phá ác liệt, đường tiếp liệu bế tắc, nên có những phim Khu 7 quay đều phải gửi về Khu 8 tráng.

Dao_dien_Mai_Loc_o_bung_bien

Đạo diễn Mai Lộc ở Bưng Biền

Chiến trường chia đôi – Điện ảnh nhập một

Năm 1951, Nam Bộ chia thành hai phân khu: Phân liên khu miền Đông và Phân liên khu miền Tây. Tháng 10/1951, điện ảnh ba khu sát nhập làm một. Nhưng do đường giao liên bị địch phá liên tục nên điện ảnh Khu 7 và Khu 8 đến tháng 2/1952 mới về đến Phân liên khu miền Tây.

Điện ảnh ba khu nhập lại thành điện ảnh Nam Bộ.

Điện ảnh Nam Bộ trưởng thành lên một bước, quay được phim khoa học Một năm Philatop của nhóm Quân y Nam Bộ do hai bác sỹ Nguyễn Thiện Thành và Trương Công Trung nghiên cứu.

Và phim truyện ngắn Hết đời đế quốc do Đạo diễn kiêm quay phim chính Khương Mễ và tập thể các học viên lớp bồi dưỡng chuyên môn thực hiện. Phần mỹ công, thiết kế do đồng chí Nguyễn Văn Phỉ và Trần Kiềm thực hiện.

Qua 7 năm hoạt động, ngành điện ảnh Nam Bộ, tiêu biểu là Điện ảnh Khu 8, bước khởi đầu của nền điện ảnh Cách mạng Nam Bộ, trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn gian khổ, đã xây dựng và trưởng thành. Và trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, đã bảo quản được toàn vẹn tài sản và tư liệu. Hiện nay, đó là số tư liệu duy nhất còn lại của lịch sử 9 năm kháng Pháp được lưu trữ tại Trung tâm Nghiên cứu nghệ thuật và Lưu trữ Điện ảnh Việt Nam.

Trong 7 năm đó, điện ảnh Nam Bộ đã có 4 đồng chí hy sinh, 2 bị thương, 1 bị địch thủ tiêu và 3 người bị địch tra tấn dã mam và giam cầm gần 1 năm tại trại Phú Lâm, khi ra tù lại trở về với Cách mạng.

Năm 1950, đồng chí Mai Lộc được thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba. Sau hòa bình, đồng chí được thưởng Huân chương Chiến công hạng Hai về thành tích xây dựng Nhiếp – Điện ảnh.

Năm 1955, đồng chí Phan Văn Trai được thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba về thành tích chiếu phim suốt thời gian kháng Pháp.

Kết quả sản xuất phim

1. Khu 8:

Trường quân chính K8 (3/1948) –Mai Lộc quay

Lễ xuất quân Trung đoàn 115 (5/1948) - Khương Mễ quay

Trận chiến Mộc Hóa (8/1948) – Mai Lộc quay mặt trận tiếp viện đường bộ, Khương Mễ quay đồn Mộc Hóa, Vũ Sơn quay mặt trận đường thủy sông Vàm Cỏ Tây

Trận Laban (12/1948) – Khương Mễ, Vũ Sơn quay

Bộ Tư lệnh viếng đội trọng pháo (2/1949) – Vũ Sơn quay

Lễ Thụ phong trung tướng Nguyễn Bình và Thiếu sinh quân Nam Bộ (12/1948) – Khương Mễ quay

BCX K8 (Binh công xưởng Khu 8) (6/1949) – Khương Mễ quay

Dân quân đắp cảng ngăn tàu giặc (6/1949) – Vũ Sơn quay

Chiến dịch Trà Vinh – Cầu Kè (3/1953) – Khương Mễ, Lý Cương, Nguyễn Đảnh quay

Chiến dịch Bến Tre (5/1950) – Vũ Sơn, Nguyễn Đảnh, Lý Cương quay

Hết đời đế quốc (phim truyện ngăn, 10/1952) – Kịch bản Khương Mễ, tập thể anh em dự lớp bồi dưỡng nghiệp vụ quay làm bài mãn khóa

Một năm Filatop (12/1952) – Khương Mễ, Lý Cương, Hồ Tây quay

2. Khu 9

Xưởng dệt Ngang Trâu (9/1949) – Nguyễn Thế Đoàn quay

Nhà in kháng địch (10/1949) – Nguyễn Thế Đoàn quay

Trường thiếu sinh quân Khu 9 (5/1949) – Nguyễn Thế Đoàn quay

Người liên lạc (tháng 9/1949) – Thanh Trước quay

Binh công xưởng Khu 9 (10/1949) – Nguyễn Thế Đoàn quay

Đoàn quân xuyên Tây (11/1949) – Nguyễn Thế Đoàn quay

Chiến dịch Sóc Trăng (1/1950) – Nguyễn Thế Đoàn, Thanh Trước và một số người khác quay

Trại bổ túc quân sự Khu 9 (3/1950) – Nguyễn Thế Đoàn quay

3. Khu 7

Chiến dịch Bến Cát (1/1950) – Tô Cương, Phạm Học quay

Trần Bầu Bàng (7/1950) – Tô Cương, Trương Thành Hỷ quay

Trận Bến Súc (12/1950) – Phạm Học – Vũ Ba quay

Giao thông Quốc lộ 1 (12/1950) – Phạm Học, Vũ Ba quay

Đạo diễn Khương Mễ

(Trích trong cuốn Điện ảnh Bưng Biền – Điện ảnh Cách Mạng)

Xem phim đang chiếu rạp
 
Ấn phẩm điện ảnh
Bia_TGDA15-10-01
Tin đọc nhiều nhất
Thế Giới Điện Ảnh